Trang chủ Tin tức - sự kiện

Mùa giáp hạt - Khi tình cảm ruột thịt tạo nên sức mạnh to lớn

03/11/2026
Tình cảm gia đình là nguồn cảm hứng bất tận của nhiều nhà văn, nhà thơ trong dòng chảy văn học. Ở đó, có những con người, những hình tượng đã in sâu trong tâm trí độc giả được hiện lên vô cùng ấn tượng qua ngòi bút sáng tạo của người nghệ sĩ. Đến với đề tài này, ắt hẳn nhiều độc giả sẽ nhớ đến hình ảnh người bà trong “Mùa giáp hạt” của tác giả Phan Đức Lộc. Một nhân vật được khắc họa vô cùng chân thực, đầy cảm xúc với vẻ đẹp giản dị nhưng ấm áp tình yêu thương và đức hi sinh.

 

“Mùa giáp hạt” đã tái hiện tình cảnh của một gia đình nghèo miền Trung phải trải qua những tháng ngày đầy khó khăn trong thời điểm “mùa giáp hạt”, thời khắc chuyển giao giữa các mùa gieo trồng. Đây cũng chính là hoàn cảnh chung của bao người nông dân sau thời kì hậu chiến. Dù ngày tháng bà cháu rau cháo nuôi nhau đầy vất vả nhưng vẫn ánh lên khát vọng sống mãnh liệt và tình yêu thương “chia ngọt sẻ bùi”. Nhưng dòng chảy tình cảm đặc biệt ấy đã chạm đến tâm hồn độc giả bằng lời văn giản dị, những hình ảnh đời thường mà sâu sắc ý nghĩa. Đoạn trích được mở ra với bối cảnh khi mùa giáp hạt về khiến hoàn cảnh gia đình rơi vào khó khăn nghèo đói lại càng nặng nhọc hơn. Cả cuộc đời bà đầy những lo toan, vất vả và đặc biệt khi bà kể cho cháu nghe về tuổi thơ cơ cực: “Hồi bà còn bé...không có mà ăn”. Qua đó, người đọc phần nào cảm nhận được nỗi khổ đã đè nặng lên đôi vai hao gầy của bà. Nhưng dù vậy bà vẫn luôn yêu thương, lo lắng và cùng đàn cháu vượt qua những tháng ngày đói khổ.

Chạm vào trái tim độc giả, người bà hiện lên với tấm lòng nhân ái, tình yêu thương bao la như biển cả, sẵn lòng hi sinh vì những đứa cháu nhỏ. “Gạo trong chum hết, bà vội vàng tất tảo đi vay gạo” hình ảnh này thể hiện bà chẳng ngần ngại vất vả mà vay gạo, bà chỉ lo cháu đói, đặt sự sống của cháu lên trên tất cả. Khi thấy cháu không quen ăn cháo rau má, bà cảm thấy “thương trào nước mắt” và “lật đật nấu cơm cho cháu”, ta thấy tình yêu thương, sự lo lắng, quan tâm mà bà dành trọn cho cháu, gợi ra hình bóng người phụ nữ lam lũ, hết lòng vì cháu. Bà trăn trở suy nghĩ, không ngủ được thở dài trầm buồn mỏi mệt, gầy sọp đi, khoé mắt bà hốc hác khi phải gánh vác, lo toan mà bà phải gánh trên đôi vai gầy, trên tấm lưng còng. Bà bán con nghé non, tài sản duy nhất của gia đình để lấy tiền mua gạo, bà chẳng do dự, chỉ cần cháu được ăn no, mặc ấm. Những hành động ấy làm sáng ngời tấm lòng nhân hậu và tình yêu thương cháu vô điều kiện. Bà nhường cơm trắng cho đàn cháu mà chỉ ăn chuối luộc và nói dối rằng: “Lúc trưa bà ăn cơm giờ vẫn còn no lắm, với lại bà thích ăn củ chuối hơn”, một lời nói dối đầy ngọt ngào, chứa chan tình yêu thương, không chỉ người cháu mà độc giả cũng cảm thấy nghẹn lòng. Bà là hiện thân của người phụ nữ vừa tảo tần, giàu đức hi sinh, chi chút từng chút một, vừa là chỗ dựa về mặt vật chất và tinh thần cho đàn cháu nhỏ. Sự hi sinh cao quý ấy trở thành biểu tượng cao đẹp. Khi đó những đứa cháu cảm nhận được nỗi vất vả, nhọc nhằn mà càng thêm yêu thương, trân trọng sự hi sinh âm thầm, thầm lặng của bà.

Đọc truyện, ta cũng nhận ra trong hình bóng bé nhỏ của bà lại ẩn chứa một nghị lực phi thường, một bản lĩnh kiên cường đến lay động lòng người. Cuộc đời bà làchuỗi ngày đầy khổ đau, khi từ tấm bé đã phải gằng mình trong cái đói, đến khi mái tóc bạc đã bước sang tuổi tám mươi, bà vẫn chưa một ngày thoát khỏi cảnh “bần hàn, cơ cực”. Trước hoàn cảnh khó khăn đó, bà chưa bao giờ chịu cúi đầu gục ngã. Ngược lại, ta chỉ thấy ở bà một niềm lạc quan âm thầm, một yêu thương ấm áp luôn nâng đỡ con cháu. Qua những trải nghiệm thật lòng của bà , bà thủ thỉ: “Sắp hết gạo rồi, các cháu ráng chịu khổ một chút. Hồi bà còn bé như các cháu, đến mùa giáp hạt, ngay cả khoai sắn cũng không có mà ăn…”. Lời nói mộc mạc ấy không chỉ là lời nhắc nhở, sẻ chia mà còn ẩn chứa sức mạnh hun đúc nghị lực trong cháu, để cháu hiểu rằng: tuy trắc trở nhưng mình cũng có thể vượt qua. Giữa gian khổ, nhọc nhằn rau cháo, một mình bà là điểm tựa, nuôi nấng đàn cháu thơ dại. Có những lúc bà thương cháu trào nước mắt, bà nhường cơm cho cháu, hay phải bận bịu đi vay từng chút gạo, bán đi tài sản duy nhất của gia đình. Gánh nặng cơm áo, nợ nần đã đè nặng lên đôi vai hao gầy nhưng bà vẫn kiên cường vượt qua. Đêm đêm bà thao thức, người bà gầy sọp hẳn đi, trằn trọc suy nghĩ nhưng chưa bao giờ để đàn cháu phải đói khát, tuyệt vọng. Chính tình yêu thương cháu con và chính trái tim nhân hậu và ý chí bền bỉ đã giúp bà mạnh mẽ mà vượt lên tất cả. Chắc hẳn, sức mạnh ấy cũng chính là vẻ đẹp muôn đời của những người phụ nữ Việt Nam, những bà, những mẹ luôn lặng lẽ hy sinh, âm thầm chở che để làm điểm tựa bìnhyên cho con cháu, làm hậu phương cho người đi công tác, cho những sĩ ở chiến khu như Tác phẩm Bếp lửa của Bằng Việt:

“Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh

Bố ở chiến khu bố còn việc bố

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên.”

Qua ngòi bút và góc nhìn thấu lòng người của tác giả, hình ảnh người bà hiện lên là một người phụ nữ tần tảo, giàu đức hy sinh, chịu thương chịu khó nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ, kiên cường. Nhân vật “Bà” không chỉ chèo lái gia đình đi qua những ngày đứt bữa mà còn trở thành điểm tựa tinh thần vững chãi cho đàn cháu nhỏ. Người bà đại diện cho lớp người nông dân nghèo khổ, lam lũ, suốt đời oằn mình trong cái đói và sự “bần hàn, cơ cực” từ trong quá khứ tới những năm tháng gian khó của đất nước. là biểu tượng cao đẹp cho người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất cao quý như sự nhẫn nại, tần tảo, hết lòng hy sinh vì cháu con và luôn sáng ngời một bản lĩnh kiên cường và không gục ngã trước mọi giông bão cuộc đời. Hình ảnh người bà trong truyện ngắn “Mùa giáp hạt” hiện lên vừa chân thực, gần gũi, vừa thấm đẫm vẻ đẹp xúc động bởi giọng kể tự nhiên, nhẹ nhàng cùng những chi tiết giản dị đời thường. Từ những lát cắt ấy, tác giả đã khắc họa nên một tượng đài người bà với trái tim bao la, chan chứa tình thương và nghị lực kiên cường vượt lên nghịch cảnh. Dù trang văn đã khép lại, nhưng dư âm vẫn ngân vang như một ca khúc ngợi ca bất tận về phẩm chất cao quý của những người phụ Việt Nam, họ bình dị mà vĩ đại, thầm lặng mà sáng ngời.

Thời gian qua đi, lớp bụi của thời gian có thể phủ mờ tất cả, dấu lặng tầm đến đài nguy nga, đồ sộ đến mấy cũng nhuốm màu rêu phong. Song không thể phủ nhận tính bất tử của nghệ thuật, của văn chương. Cũng như mỗi khi nghĩ về tác phẩm “Mùa giáp hạt” của tác giả Phan Đức Lộc, độc giả nhiều thế hệ chắc hẳn vẫn luôn yêu thích, cảm động bởi ở đó có hình ảnh nhân vật người bà quý mến, yêu thương con cháu, gợi cho ta về tình cảm ruột thịt của gia đình, nhắc nhở rằng hãy biết trân trọng, yêu thương và biết ơn người thân của mình.

Trương Tuệ Minh - Ban truyền thông lớp 7A2
Đánh giá:
Tổng số điểm của bài viết là: 0/5 trong 0 đánh giá
Chia sẻ: